Thứ Năm, Ngày 17/08/2017
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 4.800.062
Tổng số Thành viên: 1.864
Số người đang xem:  84

DU LỊCH ÂU CHÂU - HỘI CHỢ MARSEILLE - ĐẤU XẢO QUỐC TẾ PARIS

Đăng ngày: 29/03/2017 11:05
DU LỊCH ÂU CHÂU - HỘI CHỢ MARSEILLE - ĐẤU XẢO QUỐC TẾ PARIS
Nguyễn Công Tiễu luôn chú ý liên hệ, so sánh thực tại nước Pháp hiện đại với hoàn cảnh cụ thể của đất nước, dân tộc mình. Qua đây cũng có thể thấy rõ hơn năng lực và tâm huyết của một thế hệ trí thức Tây học, bên cạnh hoạt động nghề nghiệp chuyên môn vẫn trổ tài viết du ký, phác họa cảnh quan những miền đất mới, giúp bạn đọc quê nhà cùng được hưởng niềm vui du ngoạn “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”…

Lời giới thiệu


1. Ngay từ cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện nhiều tác giả người Việt Nam viết du ký nhân những chuyến đi đến Pháp và các nước châu Âu như Philipphê Bỉnh (1794-1830) với Sách sổ sang chép các việc (1822), Trương Minh Ký (1855-1900) với các tác phẩm Như Tây nhật trình (1880-1888), Chư quấc thại hội (1889-1891)… Bước sang giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, số lượng tác giả viết du ký khi đến nước Pháp ngày càng nhiều và hình thức tác phẩm cũng đa dạng hơn, chẳng hạn các tác phẩm du ký trường thiên Pháp du hành trình nhật ký Thuật chuyện du lịch ở Paris của học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), Sang Tây - Mười tháng ở Pháp của Phạm Vân Anh, bút danh của nhà báo, nhà khảo cứu Đào Trinh Nhất (1900-1951), và tác phẩm du ký công vụ Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris của nhà khoa học, nhà báo Nguyễn Công Tiễu (1892-1976)…

2. Các tác phẩm du ký viết về nước Pháp đương nhiên phải do những người đã trực tiếp đặt chân đến nước Pháp viết ra. Đây là tiếng nói của người trong cuộc, người trải nghiệm - những tác gia văn học và cũng là các trí thức lớn đương thời. Hầu hết họ đã cộng tác và có mối quan hệ tốt đẹp với người Pháp nên cách nhìn, cách cảm nhận, đánh giá của họ về mối quan hệ Việt-Pháp có những nét riêng, khác biệt. Trước hết, họ tự ý thức về hoàn cảnh, điều kiện và trình độ lạc hậu của bản thân và đất nước mình. Bên cạnh những quan sát về nền kỹ nghệ và cách thức tổ chức xã hội nước Pháp theo mô hình phương Tây hiện đại, các tác giả nhận thức rõ nhu cầu cần canh tân, cần tự cường và phát triển đất nước theo xu thế hiện đại hóa... Có thể nói các chuyến đi và tiếp xúc thực tế với người Pháp và nước Pháp đã khiến họ thay đổi, bình tĩnh đánh giá khách quan hơn về thực trạng xã hội Pháp một thời... Nhìn rộng ra, điều này cũng góp phần lý giải mối quan hệ giữa tính dân tộc và quốc tế, dân tộc và tiến bộ xã hội, phương Đông và phương Tây, thể chế xã hội và quy luật tiến hóa lịch sử... Những quan sát, nhận thức về nước Pháp góp phần mở đường cho nhận thức về so sánh văn hóa Đông-Tây, kỹ nghệ Đông-Tây, tư duy Đông-Tây và xu thế hội nhập, giao lưu quốc tế...

3. Nhà khoa học, nhà báo Nguyễn Công Tiễu (14.8.1892 - 3.10.1976), hiệu Minh Nông, sinh tại làng Trà Bồ (tục gọi làng Chè), tổng Ba Đông (nay thuộc xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên)[1]. Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau học Quốc ngữ. Tốt nghiệp Cao đẳng Nông lâm (1912), là người Việt Nam duy nhất trong Hội đồng khảo cứu về khoa học Đông Dương (Conseil de Recherches Sientifiques de l’Indochine). Về điều này, tờ Hà thành ngọ báo từng đưa thông tin:

“Hôm 23 Décembre vừa rồi, Hội đồng khảo cứu về khoa học Đông Dương (Conseil de Recherches Scientifiques de l’Indochine) đã họp kỳ thường niên để bầu lại hội viên. Trong 40 ghế các ông Nghị, nay mới có một ghế nhường cho người thuộc địa.

- Ai được ngồi ghế ấy?

- Ông Nguyễn Công Tiễu.

Sở dĩ ông Tiễu, không có đơn xin ứng cử mà lại được cả Hội đồng bầu cho toàn phiếu là vì trước đây ông có nghiên cứu được nhiều vấn đề khoa học rất có ích, nhất là mấy điều ông mới trình bày tại Hội nghị khoa học Thái Bình Dương, họp độ tháng sáu Tây vừa rồi ở Nam Dương quần đảo (Java).

Ngọ báo xin có lời mừng ông Tiễu”[2]

Nguyễn Công Tiễu cũng là người sáng lập Khoa học tạp chí (có khi viết Tạp chí Khoa học, thường chỉ ghi Khoa học) tại Hà Nội, ra được 232 số (số 1 ra ngày 1-7-1931, đến số 232 ra tháng 8-1940) và làm Chủ nhiệm Vệ nông báo… Đến đầu năm 1945, ông bị bệnh thiên đầu thống khiến mù cả hai mắt nhưng vẫn say mê nghiên cứu khoa học, sáng tạo chữ nổi dạy người mù. Năm 1960, ông được mời làm Ủy viên Trung ương Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật ViệtNam, và Chủ tịch Hội người mù ViệtNam.

Các công trình nghiên cứu cơ bản của Nguyễn Công Tiễu: Những kỳ quan vũ trụ (1929); Những điều bí mật về bèo hoa dâu (1934), Khảo cứu về bèo hoa dâu (1934); tác phẩm du ký công vụ Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris (1937-1940) và các bản thảo: Xem cây mọc dại biết loại đất hoang, Ký hiệu chữ nổi

Đặt trong tương quan chung, tác phẩm du ký được giới thiệu cuối cùng ở đây là Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris của nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu có một vị trí thật đặc biệt. Trên thực tế, vào nửa sau năm 1937, nhà Nông học Nguyễn Công Tiễu có chân trong Hội đồng khảo cứu về khoa học Đông Dương (Conseil de Recherches Scientifiques de l’Indochine) từ gần mười năm trước đã lên đường sang Pháp tham quan hội chợ Marseille và ông đã tỉ mỉ “xin kê tên và địa chỉ mấy nhà xuất cảng gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, vân vân, để các nhà sản xuất ra những món hàng ấy biết chỗ mà bán”; đồng thời tham dự Hội nghị khảo cứu khoa học ở các thuộc địa Pháp (Congrès de la Recherche Scientifique des Territoires d’Outre mer), ở đó ông có đến dự mấy kỳ và “có được một lần lên diễn đàn để giảng nghĩa về cái máy chạy bằng ánh sáng mặt giời, mà ông Trần Công Tiến đã cùng tôi sáng chế ra năm nọ. Máy ấy gọi là Turbine solaire Tiêu-Tiên”… Chính nhờ chuyến đi đó mà nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu có được thiên du ký thú vị Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris in trên Khoa học tạp chí, từ số 170, ra ngày11-9-1937, tr. 502-504 đến số 230, ra ngày1-5-1940, tr. 606...

Vốn là nhà Nông học, Nguyễn Công Tiễu sang nước Pháp tham dự hội thảo khoa học quốc tế, đến thăm các thành phố lớn, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng vẫn mong muốn tìm hiểu đời sống nông thôn, nông dân, tình quê, cảnh quê: “Từ ngày có nhiều lối giao thông tiện lợi, từ Nam sang Pháp, từ Pháp sang Nam, không mấy ngày là không có người đi về hai nước. Trong số người đi về ấy, có nhiều hạng: thương mại có, kỹ nghệ có, công chức có, du học có, du lịch có. Người ta sang Tây cũng như người Tây sang ta, phần nhiều hay ở những nơi thành thị, ít khi ở chốn nhà quê. Bởi thế cho nên khi về nước thường hay đem những câu chuyện tỉnh ra nói hơn là chuyện nhà quê. Chuyện tỉnh thì nhiều và dễ kiếm vì ở tỉnh có lắm thức hay vật lạ [...]. Nhân tôi vừa có dịp sang Pháp dự cuộc Đấu xảo quốc tế Paris, lại được sẵn thời giờ, nên có về miền nhà quê, ở nhiều nơi, giao thiệp với các hạng người, quan sát cuộc sinh hoạt, khảo cứu công việc làm của họ. Trong cuộc du lịch ấy tôi có sưu tập được ít nhiều tài liệu về chuyện nhà quê ấy, nay xin đem món dã vị đó cống hiến các ngài, dám chắc rằng các ngài chẳng được hài lòng, vì món đó, cho khéo soạn đến đâu cũng có phần nhạt nhẽo, khô khan. Nhưng còn mong ở lượng các ngài tùy ý mà cho thêm đồ gia vị, may ra món dã vị kia thanh đạm mà ngon”[3]

Rồi nhà khoa học, ký giả Nguyễn Công Tiễu dẫn người đọc đến làng Salinelle, thuộc tổng Sommière, quận Gard, ở về phía nam nước Pháp, cách Marseille chừng vài ba tiếng đồng hồ. Hãy nghe ông tả lại cảnh quan thôn quê nước Pháp cách ngày nay đã gần một thế kỷ: “Làng ở trên đỉnh đồi. Nhà làm hai bên đường như một phố ở tỉnh vậy; cái cũ, cái mới, cái thấp, cái cao; hầu hết mọi nhà đều xây tường bằng đá, vì đá ấy ngay ở đồi; gạch thường chỉ dùng để xây lò sưởi, làm cột. Mà phần nhiều lợp bằng ngói ống (tiges de bottes) xoai xoải; lắm cái mái trông sù sì, có dáng bền chặt, ít vẻ trang hoàng. Nhà nào cũng để nhiều cửa sổ, trong kính, giữa căng lưới cắt, ngoài ít khi có cánh chớp, phần nhiều là cửa ván sơn. Ở hai dãy nhà có lắm cái thật cổ, làm từ thế kỷ thứ mười bảy, nghĩa là đến nay đã ba trăm năm; có lắm cái tối tân, như trường học, nhà giây thép (có máy điện tín và điện thoại), nhà thờ, tòa xã trưởng (trên tòa xã trưởng có gác chuông, chuông treo lộ thiên, có báo giờ). Đường rộng đến 10 thước có giải nhựa, có lề đường; có đèn điện thắp suốt đêm, có máy nước, nước do máy bơm điện dẫn từ nhà máy nước riêng của làng lên lầu chứa nước. Khi chúng tôi vào trong làng có gặp mấy ông già, bà lão, mấy cậu con trai, cô con gái. Họ chào bà B. và thấy tôi là khách lạ da vàng, nhìn trộm một chút rồi lảng đi hay là vào trong nhà ngay, chứ không theo lũ lượt hay là quây vòng trong vòng ngoài như khi có ông Tây về nhà quê ta”...

Ngợi ca truyền thống văn hóa, lối ứng xử văn minh, nhân hậu giữa người với người, Nguyễn Công Tiễu dẫn lại cuộc đối thoại đầy ý nghĩa:

“- Trong làng ta có trộm cướp không?

- Trộm, họa cũng có, trộm là những trẻ nhỏ nó tắt mắt lấy con cá lá rau, chùm nho, quả mận, chẳng đáng là bao, chứ trộm to, không có bao giờ. Trong cả làng tôi, nội hương ấp, ngoại đồng điền, mà chỉ có mỗi một người gác, thế mà cũng chẳng mấy khi có việc, xem thế đủ biết chúng tôi ở đây yên ổn lắm. Còn cướp (pillage) bây giờ tôi mới nghe thấy tiếng ấy là lần thứ nhất, nhờ ông giải nghĩa cho chúng tôi nghe.

- Cướp ở xứ nhà tôi có nhiều lối lắm, nhưng xin kể làm thí dụ, hai lối thường hay thực hành, một là lối vào nhỏ ra to, hai là lối “cướp chính thức”. Lối vào nhỏ ra to đại khái như thế này: chập tối có thằng kẻ cướp lẻn vào trong nhà, không ai biết. Đến đêm nó mở cửa cho lũ đồng đảng nó vào, chúng nó bật hồng lên, quát mắng ầm ĩ, liền khảo của bằng những cách tối dã man; nếu khổ chủ không chịu dẫn đến chỗ để tiền, có khi chúng giết. Lối cướp chính thức cũng giống như lối vào nhỏ ra to, duy chỉ khác là chúng phá cổng phá cửa vào nhà, chứ không cho đồng đảng lẻn vào trước.

Nói đến chỗ này, bà B. em bà B. và nhất là hai đứa bé, đang ăn bỏ dao đĩa xuống bàn, nhìn nhau, ra dáng sợ hãi lắm. Rồi hai bà cùng nói: Ở chúng tôi từ thượng cổ đến nay không có cái quái gở ấy bao giờ”...

Tiếp theo đó, ký giả Nguyễn Công Tiễu đã hài hước đối sánh và “thi vị hóa” nghệ thuật “chửi” của dân quê người Việt:

“- Tôi muốn biết những câu chửi nhau thậm tệ của người nhà quê Tây thế nào?

- Đàn bà, hạng hạ lưu, khi chửi nhau với đàn ông, họ dùng đến câu này là tệ nhất, xin phép ngài: salaud, đồ đểu giả. Còn đàn ông, cũng hạng hạ lưu, thì dùng câu, xin phép ngài: butaine, đồ giang hồ…

Nghe đến đấy, tôi không thể nhịn cười được. Bà B. nói, có phải ông cười về cái thô tục ở những câu chửi của nhà quê chúng tôi không? Không, tôi buồn cười vì nỗi câu chửi nhau hãy còn nhẹ nhàng như thế mà đã đến nỗi đánh nhau được, nếu họ phải nghe những câu chửi ở xứ tôi có lẽ họ phải giết nhau. Tôi không thể dịch ra tiếng Pháp được, tôi xin hội ý lại rồi cắt nghĩa đại khái để bà nghe: Khi đàn ông chửi nhau với đàn bà, họ bảo… họ cưỡng bách kết hôn với bà thân sinh, bà nội, bà cụ tổ họ người đàn bà ấy, vân vân… Còn khi người đàn bà chửi nhau với người đàn ông… họ cũng đòi cưỡng bách… A, thưa không, họ mượn một con vật nuôi ở trong nhà, mà An Nam chúng tôi cho là hèn mạt nhất, cưỡng bách giúp! Thế cũng chưa đủ, họ còn bắt người đàn ông cùng là ông bà ông vải người ấy phải ăn những ngót bốn vạn bát “hồng hoa tửu”, bắt ăn xong rồi họ chém…

- Thưa ông, chém bằng gì?

- Chém bằng mồm, chém hết mọi người thân thuộc của người đàn ông, bất luận là còn sống hay là đã thác; chém xong họ không cho chôn, họ bắt tán nhỏ hài cốt rồi đem táng vào chỗ rất hiểm, mà họ tạm dùng làm nghĩa địa!

Hai chị em bà B. nghe xong cười rũ cười rượi, rồi bà B. nói:

- Về mặt chửi có lẽ nước An Nam nhà ông tấn bộ nhất hoàn cầu!”…

Như vậy, với khả năng quan sát, liên tưởng sâu rộng, nhà khoa học, ký giả Nguyễn Công Tiễu đã biết phát hiện và làm mới những vấn đề tưởng chừng giản đơn, quen thuộc. Sau khi đến thăm làng Salinelle, quan sát và tìm hiểu lâu đài cụ quận, thăm thú cảnh quê, nhà tiểu điền chủ, tòa xã trưởng, nghe bài dân ca và lề lối sinh hoạt, tập quán dân làng, Nguyễn Công Tiễu đi đến liên hệ với hương thôn xứ mình và xác định: “Nói tóm lại, người nhà quê Tây có nhiều đức tính hay: chịu khó làm việc, không hay ỷ lại, khi thừa phòng lúc thiếu, không hoang phí, chuộng sự thật thà, ghét hư danh. Đã có nhiều đức tính hay như vậy, lại ở vào nơi khí hậu ôn hòa, thổ địa phì nhiêu, lại gặp được cái xã hội có lối giáo dục hay, có cách cai trị giỏi, trách chi mà trình độ tiến hóa của người ta chẳng cao hơn người khác về đường vật chất cũng như về đường tinh thần. Thấy trình độ tiến hóa của người ta được cao như thế, người thức giả tất nhiên phải tự vấn tâm xem có cách gì bắt chước được không. Thiết tưởng bắt chước được người ta không phải là việc dễ. Vì tình cảnh và tính tình người nhà quê mỗi nơi một khác. Nhưng nếu cứ theo những chính sách hiện hành ở xã hội Tây, theo những đại cương thích hợp, bỏ những tiểu tiết bất hợp thì rồi cũng có thể nâng cao được trình độ của người nhà quê ta”...

Khi đếnParis, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu xuống tàu điện ngầm, trải nghiệm cả phương tiện hiện đại cũng như sinh hoạt đời thường, ý thức văn minh, thanh lịch và trách nhiệm của mỗi công dân:

“Lấy vé xong xuống bến xe điện; ở đấy có người soát vé và có cửa “tự động”, hễ xe điện sắp đến thì nó đóng lại, không thể nào chen vào được nữa, xe điện chạy qua rồi nó lại tự mở ra. Chỗ đợi có chỗ ngồi tử tế. Trên ghế ấy thường có những cặp trai gái nói chuyện nhỏ to, có khi ôm hôn nhau một cách tự nhiên, dù chung quanh có đông người mặc kệ.

Đợi độ mấy phút đã có mấy chuyến, xe đi một đường, nghĩa là cái xuôi cứ việc xuôi, cái ngược cứ việc ngược, mỗi cái một đường, không phải tránh nhau. Xe đỗ liền vệ bến, người bước lên rất tiện. Người lên xong, các cửa tự đóng lại, trong khi xe chạy không thể nào mở được cửa vì nó có không khí hãm (air comprimé).

Trong xe rất sạch sẽ, có riêng mấy ghế đánh số để phần các nhà cựu binh. Không thấy đàn ông nhường đàn bà. Họ giữ gìn chỗ ngồi sạch sẽ lắm. Một lần tôi được mục kích việc sau này: tôi ngồi bên một bà đầm, cạnh bà có một chỗ không. Đối diện bà đầm có một người da vàng ngồi xem nhật trình. Người ấy gác một chân lên chỗ không ấy, làm cho cát bụi rơi xuống cạnh ghế. Bà đầm chẳng nói gì khi bà còn ngồi, nhưng khi bà đứng dậy sắp lên, bà nhẹ nhàng nói với ông đọc báo: “Xin ông lau sạch chỗ này cho”… Ông kia phải lấy tờ báo quạt sạch rồi bà kia mới đi”[4]

Với tư cách người tham quan và nhà báo, người lược thuật thông tin về cuộc triển lãm, Nguyễn Công Tiễu đi xem, khảo sát và mô tả chi tiết 17 gian hàng, mở đầu là gian Phát biểu tư tưởng (Phát minh - Lâu đài khoa học, Văn chương - Thư viện, Bảo tàng và triển lãm, Diễn kịch, Âm nhạc, Ca vũ, Chớp bóng, Hội nghị và diễn thuyết)…

Với vị thế nhà khoa học, Nguyễn Công Tiễu đặc biệt say mê tìm hiểu, khám phá và tường thuật cái hay, cái mới, cái hiện đại của 8 ban ngành khoa học, kỹ thuật: Toán học - Ban Thiên văn - Ban Vật lý - Ban Hóa học - Ban Sinh lý - Ban Y học - Ban Giải phẫu - Ban Vi trùng… Đứng trước các sản phẩm triển lãm, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu thấy hứng khởi với công việc chuyên môn: “Những người đi xem được đứng trước những cuộc thí nghiệm rất vui mắt kia trong Đài Khoa học, ai cũng lấy làm khoan khoái; nhiều người có cái cảm tưởng rằng mình cũng muốn làm nhà khảo cứu, biết đâu một ngày kia, mình lại không phát minh ra những điều bổ ích cho xã hội, nhân quần”[5]

Nhìn rộng ra, những trang ghi chép về quang cảnh hội chợ, không khí hội nghị khoa học, cơ sở các phòng ban chuyên môn, các điểm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đều được Nguyễn Công Tiễu diễn tả đầy đủ, chi tiết, khơi gợi hứng thú và đưa đến nguồn tri thức mới mẻ cho người đọc. Đặc biệt Nguyễn Công Tiễu luôn chú ý liên hệ, so sánh thực tại nước Pháp hiện đại với hoàn cảnh cụ thể của đất nước, dân tộc mình. Qua đây cũng có thể thấy rõ hơn năng lực và tâm huyết của một thế hệ trí thức Tây học, bên cạnh hoạt động nghề nghiệp chuyên môn vẫn trổ tài viết du ký, phác họa cảnh quan những miền đất mới, giúp bạn đọc quê nhà cùng được hưởng niềm vui du ngoạn “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”…

4. Quy cách biên soạn

- Thực hiện công trình biên soạn Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris của Nguyễn Công Tiễu, chúng tôi sắp xếp các mục bài theo thứ tự thời gian tác phẩm xuất hiện trên tạp chí, tương đồng với lối ghi chép theo thời gian tuyến tính, lối viết du ký - nhật ký.

- Văn bản được in theo nguyên văn. Một số chi tiết được dẫn giải thêm sẽ ghi rõ trách nhiệm của người biên soạn.

- Việc chỉnh sửa chỉ dừng lại ở các chữ và chi tiết cụ thể, tên người và địa danh, một số các diễn đạt và lỗi in cần vi chỉnh theo ngữ pháp và chính tả hiện hành, trước sau chỉ nhằm tạo nên quy cách thống nhất tương đối trong toàn sách…

5. Lời kết mở

Đến nay, một số tác phẩm du ký viết về nước Pháp và mối quan hệ Việt-Pháp thuộc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã bước đầu được sưu tập, tuyển in lại. Trong thời gian tới, việc tăng cường sưu tập và hoàn thành một bộ toàn tập các tác phẩm du ký theo chủ điểm nói trên chắc chắn không chỉ có ý nghĩa trên phương diện lịch sử mà còn giúp ích cho việc nhận thức con đường đổi mới, phát triển đất nước cũng như chính mối quan hệ Việt-Pháp trong hiện tại và cả tương lai.

Nhân dịp công trình sưu tập, biên soạn Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris đến tay bạn đọc, chúng tôi chân thành cảm ơn cụ Nguyễn Công Thắng (sinh năm 1925, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, con trai nhà khoa học, ký giả Nguyễn Công Tiễu), ông Nguyễn Công Minh (sinh năm 1950, con cụ Nguyễn Công Thắng) và TS. Nguyễn Giáng Hương (cán bộ Viện Văn học, hiện làm việc tại Cộng hòa Pháp), đã giúp đỡ chúng tôi trong việc sưu tầm văn bản Khoa học tạp chí; trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo và biên tập Nhà xuất bản Tri thức đã góp ý xây dựng, nâng cao chất lượng bản thảo.

Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc gần xa.

Hà Nội, ngày 2 tháng 3 năm 2017
PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN
(Viện Văn học)


 



[1] Xin xem Nguyễn Công Tiễu. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki

- Trần Lê Văn: Nguyễn Công Tiễu (1892-1976) - ông già ở Thủy Tiên Trang, trong sách Những gương mặt trí thức, Tập II. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 546-560... Nguyên văn ghi “Nguyễn Công Tiễu (1888-1973)”, nay sửa lại (NHS chú).

- Nguyễn Quốc Tín - Nguyễn Huy Thắng - Nguyễn Như Mai: Nguyễn Công Tiễu (1888-1976) - Nhà khoa học tiên phong, trong sách Những gương mặt không thể nào quên. Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, 2014, tr. 123-137.

[2] Ngọ báo: “Ông Nguyễn Công Tiễu cán sự chuyên môn ngạch Nông chính được vào Hội đồng khảo cứu về khoa học Đông Dương”. Hà thành ngọ báo, số 747, ra ngày 26-12-1929, tr. 2.

[3] Nguyễn Công Tiễu: “Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris”. Khoa học tạp chí, số 187, ra ngày1-4-1938, tr. 150. Các đoạn dẫn ngay sau đây đều theo số tạp chí này.

[4] Nguyễn Công Tiễu: “Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris”. Khoa học tạp chí, số 198, ra ngày 15-9-1938, tr. 414.

[5] Nguyễn Công Tiễu: “Du lịch Âu châu - Hội chợ Marseille - Đấu xảo quốc tế Paris”. Khoa học tạp chí, số 202, ra ngày 15-11-1938, tr. 511-512.

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn