Thứ 3, 22/5/2012

Cập nhật lần cuối07:54:44 PM GMT

Dịch thuật và nghiên cứu văn học hiện nay: Những giới hạn, thách thức và triển vọng…

  • PDF.
(1 - bình chọn của bạn đọc)

Đỗ Thị Hường: Giới thiệu văn học Nga tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự hệ thống và quy củ

Số lượng các tác phẩm văn học Nga được dịch ở Việt Nam hiện nay lại chiếm số lượng khiêm tốn hơn so với những năm đầu thế kỷ. Sự sụt giảm số lượng ấn phẩm như vậy một phần do thực tế đời sống văn học Nga đương đại, một phần do số lượng người dịch văn học Nga, làm văn học Nga tại nước ta đang ít dần. Chưa khi nào việc tìm một chỗ học tiếng Nga cho những người yêu văn học Nga lại khó đến thế, thậm chí, giáo viên tiếng Nga trong trường đại học chính quy tiếng Nga cũng không có nhiều sinh viên. Đại đa số những người học tiếng Nga ở trong nước và ở nước ngoài đều làm trong các ngành nghề khác với mức lương hấp dẫn hơn…. Việc dịch và giới thiệu văn học Nga tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự hệ thống và quy củ. Phần lớn các tác giả dịch vẫn theo sở thích chứ chưa có một kế hoạch cụ thể. Số lượng các tác giả văn học Nga hiện đại và đương đại cùng số lượng tác phẩm của họ rất lớn, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa tiếp cận được hết kho tàng này. Điển hình như nhà văn Nga nổi tiếng Solzhenhitsyn, Grossman (với tác phẩm Cuộc đời và số phận), Erofeev (với tác phẩm Matxcova – Petruski), Makanin… Đây là một miền đất hứa, cũng là một thách thức đối với những người nghiên cứu ngữ văn trẻ nói chung

Đoàn Ánh Dương: Những chuyển động cần thiết và có ý nghĩa

Khi lý thuyết (lý luận) phương Tây được tiếp nhận ở Việt Nam đương đại, đã có rất nhiều vấn đề nảy sinh. Trong các vấn đề đó, một nhận thức thấu triệt về các vấn đề lý thuyết (lý luận) để hình thành nền khoa học văn học mới luôn được đặt ra, được tái nhận thức. Có mấy vấn đề đáng lưu tâm ở chỗ này. Thứ nhất, có lẽ sau nhiều năm khoa học văn học Việt Nam được định hình trong mô hình phản ánh luận marxist, khi lý thuyết (lý luận) văn học được đồng nhất với đường lối văn nghệ, tức đều là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho nhận thức và hành động về văn học, thì các lý thuyết văn học (literature theory) được tiếp nhận đều được đồng nhất là lý luận văn học (theory of literature). Câu hỏi lý thuyết là gì thường không được đặt ra, còn câu hỏi như vậy về lý luận thì dễ dàng tìm được câu trả lời: các nguyên lý văn học. Hệ quả của điều này dẫn đến vấn đề thứ hai, mô hình “lý luận và ứng dụng” được phổ biến. Nó làm cho khoa học văn học ở Việt Nam dễ bị rơi vào hai tình trạng: một, văn học Việt Nam trở thành chất liệu minh họa cho tính đúng đắn của lý thuyết; hai, chỉ hấp thụ một số khía cạnh nào đó của lý thuyết sao cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, tức biến hóa thành một thứ lý thuyết mang “màu sắc Việt Nam”. Chính vì hai vấn đề trên, mà nảy sinh một vấn đề thứ ba, là việc tiếp nhận không đầy đủ và có hệ thống về lý thuyết văn học. Người ta chỉ chọn những lý thuyết này chứ không phải lý thuyết kia, xuất phát từ sức hấp dẫn của lý thuyết, khả năng tương thích với hoàn cảnh Việt Nam, hay đơn giản hơn, như một cơ duyên trong quá trình học tập và nghiên cứu văn học. Điều đó có lẽ cũng sẽ là không sao, nếu không có chuyện rất thường khi người ta vô thức hay hữu thức, cố tô đậm cho vẻ hoàn bị của lý thuyết, từ duy tôn rồi đến độc tôn một lý thuyết được tiếp nhận nào đó. Từ một quan điểm tiếp cận còn nhiều tùy tiện như vậy, thực tế nghiên cứu văn học Việt Nam tiếp tục nảy sinh những bất cập khác, nhất là trong việc phân định các kiểu loại văn bản khoa học văn học, như: phê bình và tiểu luận (trong hàng loạt tên sách), phê bình, điểm sách, tin sách (trên hàng loạt các báo và tạp chí),… Tất cả làm cho khoa học văn học ở Việt Nam kém phát triển, ở cả phương diện tiếp cận với trình độ khoa học thế giới và nghiên cứu thực tiễn văn học Việt Nam. Trước thực trạng ấy, vì vậy, những chuyển động đáng mừng trong thời gian vừa qua trong đời sống học thuật Việt Nam, nhằm đưa ra những kiểm thảo về lý thuyết, những hoa tiêu về một bài luận khoa học, những minh định về các kiểu loại, khái niệm, hình thái diễn ngôn khoa học văn học là cần thiết và có ý nghĩa.

Đỗ Hải Ninh: Người đọc có quyền từ chối việc diễn giải tác phẩm trong mối liên hệ với tác giả

Quan sát tiểu thuyết đương đại từ nội dung văn bản, kỹ thuật kể chuyện, đến tiểu sử nhà văn và những tư liệu được kiểm chứng và sự thú nhận của bản thân tác giả, tôi thấy sự xuất hiện của tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện là một hiện tượng đáng chú ý, trong đó, những tác phẩm tiêu biểu nhất cũng thường là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Dòng sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Con tốt sang sông (Nguyễn Trọng Oánh) Ba người khác (Tô Hoài),…  Ở các tiểu thuyết này người đọc có thể thấy thấp thoáng hình bóng tác giả và những chi tiết tiểu sử đời tư nhà văn dù không hề tìm thấy một dấu hiệu thỏa thuận ngầm giữa người kể và độc giả rằng: “Tôi là X, tôi muốn kể sự thật về đời tôi”. Đây là những tiểu thuyết lấy chất liệu từ bản thân cuộc đời riêng tư của tác giả, những chi tiết mang tính tiểu sử, qua đó bộc lộ cái tôi cá nhân rõ nét. Mặc dù coi tác giả là chủ thể sáng tạo chi phối quá trình kiến tạo tác phẩm nhưng việc nghiên cứu tiểu sử chỉ là phương tiện để khám phá bản thân tác phẩm….

Trần Quỳnh Hương: Các nhà phê bình văn học dịch Việt Nam “ngủ đông” quá say

Quá trình dịch và xuất bản tiểu thuyết Trung Quốc ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ tình hình sáng tác của các nhà văn Trung Quốc, mà còn quan mật thiết đến sự biến đổi của tình hình chính trị trong nước của Trung Quốc và mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhìn lại 537 tác phẩm được dịch và xuất bản ở Việt Nam trong 25 năm (1986 - 2011), có thể khái quát như sau: Thứ nhất, xét về thời kỳ phát triển của văn học, việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học đương đại được coi trong hơn tiểu thuyết cổ điển và hiện đại. Thứ hai, thể loại tác phẩm được dịch và xuất bản đa dạng, phong phú: có các tác phẩm thuộc loại hình văn học cao nhã (hay còn gọi là văn học nghiêm túc, văn học thuần khiết), nhưng các tác phẩm thuộc loại hình văn học thông tục vẫn chiếm số lượng lớn nhất… Có một điều đáng buồn là: nhiều tác giả thực sự không có vị trí văn học gì ở Trung Quốc nhưng chỉ qua vài cuốn truyện giật gân, sắc dục gây đình đám trong lớp trẻ thì chỉ một thời gian sau đã được dịch ra bằng tiếng Việt và được quảng bá rùm beng. Trước thực trạng này, nhà văn Đỗ Chu kêu gọi các dịch giả tâm huyết phải tìm những tác phẩm lớn, những nhà văn lớn để dịch ra tiếng Việt, được vậy mới có thể có cái nhìn thực sự đúng đắn, chất lượng về văn học Trung Quốc hiện nay. Điều đó đòi hỏi sự quan tâm đầu tư cả về kinh phí lẫn thời gian của các dịch giả chuyên nghiệp cũng như Hội Nhà văn Việt Nam. Hơn thế, muốn có một nền văn học dịch nói chung và văn học Trung Quốc được dịch ra tiếng Việt nói riêng thì luôn phải song hành một nền phê bình văn học dịch. Trong khi đó, dường như “mặt trận” này các nhà phê bình văn học Việt Nam “ngủ đông” quá say bấy lâu nay. 

Nguyễn Thị Thanh Lưu: Hiện trạng chồng chéo trong phân loại truyền thuyết

Ở Việt Nam, đồng hành với tình trạng hầu như đóng băng trong nghiên cứu đặc trưng thể loại, vấn đề phân loại truyền thuyết cũng “ít được bàn đến”. Vấn đề này chỉ được đặt ra chủ yếu trong các bộ giáo trình đại học - những cuốn sách khoa học căn bản nhất….Theo chúng tôi, mỗi cách phân loại truyền thuyết của các nhà folklore đều có lý lẽ riêng do căn cứ vào các hệ tiêu chí khá cụ thể. Tuy nhiên, chưa có một phương án phân loại nào có thể gọi là phương án vạn năng để có thể sử dụng trong mọi tình huống nghiên cứu. Có lẽ đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến hiện trạng tồn tại chồng chéo vô số cách phân loại khác nhau. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thể loại ở nhiều phương diện khác nhau, hiện trạng phân loại phức tạp ấy là điều đương nhiên không thể khác. Nếu đặt ra vấn đề thể loại truyền thuyết gắn với địa phương cụ thể - như xứ Nghệ, chúng tôi nhận thấy về cơ bản, cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch (chia truyền thuyết làm 3 loại lớn: Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong - vật) phù hợp nhất cho tình huống nghiên cứu đặt ra.

Nguyễn Thanh Tâm: Phê bình - diễn giải về sự cách tân thơ hiện nay thiếu sức thuyết  phục cần thiết

Đọc những bài nghiên cứu – phê bình về thơ Việt Nam hiện nay chúng ta hay bắt gặp những diễn giải về một sự cách tân nào đó trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. Tuy nhiên, những lời đặt định ấy dường như thiếu đi sức thuyết phục cần thiết. Cách tân như thế nào? Biểu hiện của sự cách tân ấy ra sao? Đâu là tiêu chí để nhận ra sự cách tân của một thi phẩm, một thi sĩ, một khuynh hướng, một loại hình thơ? Đó là việc cần phải làm để biện hộ cho những lời đặt định.

Nghiên cứu thơ tôi rất chú ý đến vấn đề kiểu tư duy thơ. Có thể nói đây là hạt nhân chi phối mọi hoạt động sáng tạo của thi sĩ, cấu thành nên thi giới. Thế giới nghệ thuật là sản phẩm của tư duy nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật mang tính động, mang tính quá trình gắn với các thao tác: liên tưởng, tưởng tượng, suy tưởng và cả những “sự mất ngủ của giấc mơ” nữa,… Các phân tố làm nên kiểu tư duy thơ là gì? Đó chính là quan niệm về chất thơ, cách kiến tạo thi ảnh, cách khơi tạo và duy trì mạch thơ, cơ chế lựa chọn và kết hợp trong mĩ cảm của chủ thể sáng tạo, cách thức tổ chức tác phẩm, các chất liệu tiêu biểu (hiểu theo nghĩa là ở tác phẩm, thể loại, loại hình, tác giả này có mà tác phẩm, tác giả, thể loại, loại hình khác không có hoặc không nổi trội). Cách tân thơ chỉ có thể có được khi đổi mới kiểu tư duy thơ, làm xoay chuyển hệ thống các phân tố đã nêu. Đúng ra, đó là sự phá vỡ cấu trúc của kiểu tư duy trước, kiến tạo một kiểu tư duy khác. Một chỉnh thể nghệ thuật mới bắt đầu phôi thai từ trong tư duy, hứa hẹn một loại hình thơ mới ra đời. Sâu xa hơn, phải thấy rằng, cội rễ của việc thay đổi kiểu tư duy thơ chính là sự thay đổi của quan niệm triết học và mĩ học. Nếu không có sự thay đổi mang tính nền tảng này, những khẳng quyết về sự cách tân nào đó trong thơ không gì hơn là gợi lên một nỗi hoài nghi.

Nguyễn Phương Thảo: Một hướng làm văn học so sánh cần nghiên cứu, học hỏi

Được xác lập từ năm 1886, bộ môn văn học so sánh thế giới đã có những thành tựu đáng kể; tuy nhiên, nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, bộ môn này mới bắt đầu định hình và phát triển. Năm 2011, nhân dịp cuốn Giáo trình văn học so sánh của Hồ Á Mẫn được dịch và giới thiệu, chúng tôi đặt vấn đề nhận diện tổng quan bộ môn văn học so sánh Việt Nam. Cùng với việc tìm hiểu, khảo sát một số sách nghiên cứu văn học so sánh khác, những vấn đề về lịch sử phát triển, tình hình nghiên cứu, mục đích, đối tượng, phương pháp, phạm vi... của văn học so sánh được đặt ra để đánh giá, luận bàn. Trong Giáo trình văn học so sánh, việc ứng dụng văn học so sánh đã được khảo sát thực sự chuyên sâu, công phu, tỉ mỉ thông qua so sánh văn học Trung – Tây, nghiên cứu ảnh hưởng của tư trào văn học hiện đại phương Tây đối với tiểu thuyết đương đại Trung Quốc... vấn đề lý thuyết văn học so sánh cũng được giải quyết từng bước, qua từng thời kỳ, giai đoạn, trào lưu khác nhau, đem đến cái nhìn tổng quát nhất. Chúng tôi cho rằng, đây là hướng làm văn học so sánh bài bản, quy phạm mà chúng ta cần nghiên cứu, học hỏi.

Phùng Gia Thế: Điều kiện hậu hiện đại của văn học Việt Nam - vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại ở nước ta quan tâm thỏa đáng

Không thể mặc nhiên nói đến thực tiễn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại nếu không chứng minh được những "điều kiện hậu hiện đại" của nó từ văn hóa. Nói khác đi, việc chứng thực sự tồn tại của một thực tiễn văn học hậu hiện đại ở Việt Nam chỉ có cơ sở khi người nghiên cứu chỉ ra được những điều kiện (tiền đề, hoàn cảnh) hậu hiện đại của nó trong văn hóa. Đây cũng là vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại ở nước ta quan tâm thỏa đáng…. Chúng tôi cho rằng, những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại không phải hiện tượng thuần ngoại nhập, mà phần lớn bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội - tinh thần của nước ta. Nếu những ảnh hưởng từ bên ngoài vào hậu hiện đại ở nước ta chủ yếu biểu hiện ở các vấn đề thủ pháp kĩ thuật, thì tâm thức hậu hiện đại cơ bản lại được sinh thành từ các nhân tố bên trong (tất nhiên cũng không loại trừ tính chất lây lan của tâm thức bắt nguồn từ bên ngoài).

Nguyễn Thị Hiền: Nghiên cứu văn chương nữ Việt Nam những năm gần đây

Văn học nữ quyền chỉ xuất hiện trong điều kiện xã hội đạt đến trình độ dân chủ thực sự. Văn chương nữ Việt Nam gần đây chịu ảnh hưởng của văn học nữ quyền thế giới và Trung Quốc….Âm hưởng nữ quyền thể hiện rõ nét nhất trong văn chương nữ Việt Nam hiện nay đó là ngôn ngữ trong tác phẩm khá mạnh mẽ, có khi gây shock bằng sức nặng của ngôn từ. Đó là thứ ngôn ngữ thể hiện sự trải nghiệm của nữ giới mà chỉ ở họ mới có được. Nhiều nhà văn nữ xuất phát từ góc nhìn của nữ giới, công khai xét lại lịch sử, điển phạm nghệ thuật, bày tỏ khát vọng về cuộc sống tự chủ, không lệ thuộc vào người đàn ông ở cả gia đình, xã hội và sinh hoạt giới tính…. Hoạt động phê bình văn chương nữ cũng giống như hoạt động phê bình văn học nói chung, bao gồm hai phương diện: thứ nhất, nghiên cứu cụ thể một tác phẩm; thứ hai, tìm hiểu hiện tượng, trào lưu và một số vấn đề văn học của các tác gia nói chung (trong đó bao gồm một số vấn đề lý luận văn học). Hai phương diện đó có mối liên hệ và giao thoa với nhau mà không thể tách rời; chẳng qua là nhấn mạnh hay coi nhẹ phương diện nào của nhà phê bình mà thôi. Theo các học giả Trung Quốc Trần Hanh, Tôn Cảnh Nghiêu, Tạ Thiên Chấn, nghiên cứu văn học nữ quyền có ba giới định: “thứ nhất là nghiên cứu văn học do tác giả nữ sáng tác; thứ hai là nghiên cứu văn học miêu tả đời sống nữ giới; thứ ba là nghiên cứu văn học biểu hiện ý thức nữ quyền”. Sự khác nhau giữa ba phạm vi giới hạn đó tương đối lớn. Phạm vi giới hạn thứ nhất dùng tiêu chuẩn phân chia tác giả là nữ giới hay không là nữ giới và không cần để ý xem nội dung tác phẩm có liên quan đến đời sống người phụ nữ hay không. Phạm vi giới hạn thứ hai không để ý đến giới tính của tác giả, chỉ chú ý đến nội dung tác phẩm có liên quan mật thiết với đời sống nữ giới hay không. Hai phạm vi giới hạn đó chính là “nữ giới sáng tác” và “viết về nữ giới”. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học truyền thống, hai quan điểm nghiên cứu đó đã là một trong những phương thức thường thấy và không có gì lạ. Phạm vi giới hạn thứ ba tuy có hơi trừu tượng, nhưng vẫn là thoát thai từ hai phạm vi giới hạn trước. Nó không chỉ dừng ở tác phẩm viết về nữ giới, cũng không dừng ở nội dung biểu hiện nữ giới nói chung mà điểm nhấn mạnh chính là tìm hiểu biểu hiện ý thức và hứng thú của người phụ nữ…

Nhìn từ tình hình hoạt động phê bình cho thấy, đội ngũ lý luận phê bình văn chương nữ Việt Nam đang dò dẫm tiến lên phía trước, tuy lý luận của bản thân họ chưa thực sự chín muồi và hoàn chỉnh, nhưng chỉ cần học hỏi, tiếp thu lý luận phê bình văn học nữ quyền phương Tây, vận dụng “thi học giới tính”, chú trọng khai phá tài nguyên văn học thì sẽ xây dựng hoàn thiện hệ thống lý luận văn học nữ quyền mang bản sắc riêng của Việt Nam.

Hoàng Phong Tuấn: Trò chơi ngôn ngữ và phê bình văn học

Theo Wittgenstein, tạo ra và đọc tác phẩm tuy cùng một loại, nhưng có thể là những trò chơi ngôn ngữ khác nhau. Hành vi và mục đích của chúng tùy thuộc vào hình thức cuộc sống mà chúng tồn tại. Tạo nên một tác phẩm truyện là hành vi sử dụng ngôn ngữ, hằn sâu trong những hành vi khác của hình thức cuộc sống. Ta có thể viết truyện vì thôi thúc nội tâm của ta, nhưng ta cũng có thể viết truyện vì kiếm sống, hay vì những mục đích sâu xa khác nữa trong một hình thức cuộc sống chi phối hành động và sự sử dụng ngôn ngữ của ta, mà chỉ có ta mới hiểu vì sao ta tuân theo nó. Cũng vậy, đọc một tác phẩm truyện là một hành vi sử dụng ngôn ngữ để hiểu, lý giải tác phẩm, nhưng là một bộ phận của một hình thức cuộc sống khác. Ta sử dụng ngôn ngữ để đọc, ta đọc tác phẩm để phê bình, hay chỉ để thưởng thức hoặc giải trí, ta cũng có thể đọc tác phẩm để thực hiện nghĩa vụ, để giải thích cho một luận điểm trong giờ giảng dạy văn học… Ta có thể phê bình tác phẩm theo quy tắc và quy ước của trò chơi ngôn ngữ văn học; nhưng ta cũng có thể phê bình tác phẩm bằng các quy tắc và quy ước của trò chơi ngôn ngữ khác, vì hình thức cuộc sống mà ta tồn tại. Mỗi hoạt động đọc như thế tùy thuộc vào hình thức cuộc sống mà ở đó việc sử dụng ngôn ngữ của ta có ý nghĩa nhất định, tuân theo những quy tắc nhất định, những chuẩn mực nhất định, trong một bối cảnh cộng đồng và văn hóa xã hội nhất định và nằm trong các mục đích của riêng ta…

Khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” của Wittgenstein được Lyotard phát triển xa hơn khi ông sử dụng nó như một phương pháp để phân tích hoàn cảnh hậu hiện đại của khoa học. “Có thể rút ba quan sát về chủ đề trò chơi ngôn ngữ. Thứ nhất, các quy tắc của chúng không có sự hợp thức hóa ở bản thân chúng, mà chúng là khế ước mặc nhiên hay minh nhiên giữa các người chơi (nhưng điều này không có ý nói họ là người phát minh ra các quy tắc). Thứ hai, không có quy tắc thì không có trò chơi, một sự thay đổi dù là nhỏ của một quy tắc cũng làm thay đổi bản tính của trò chơi, và một “nước cờ” hay một phát ngôn không thỏa mãn các quy tắc thì không thuộc về trò chơi được xác định bằng các quy tắc ấy. Thứ ba, như vừa nói trong điều trên: mọi phát ngôn phải được xem như một nước đi trong một trò chơi. Quan sát thứ ba này đưa tới sự thừa nhận một nguyên lý đầu tiên làm cơ sở cho toàn bộ phương pháp của chúng ta: phát ngôn là đấu tranh, hiểu theo nghĩa chơi, và các hành vi ngôn ngữ cho thấy một sự đối chọi, tranh đua chung”.… Quan niệm của Witgenstein và sự khai triển của Lyotard về trò chơi ngôn ngữ trong hoàn cảnh tiền hiện đại và hiện đại gợi mở một góc tiếp cận và phân tích các hiện tượng tiếp nhận và phê bình văn học trong giai đoạn 1945 – 1985 tại Việt Nam, vốn mang đặc điểm chính là tồn tại sự đan xen, đồng nhất, chi phối của quan điểm chính trị đối với quan niệm văn học. Theo đó, diễn ngôn tiếp nhận, phê bình hiện lên như là những nước đi của trò chơi ngôn ngữ trong hình thức cuộc sống đặc thù của bối cảnh chính trị xã hội

Cao Kim Lan: Tu từ học tiểu thuyết – phương pháp tiếp cận giàu tiềm năng trong bối cảnh nghiên cứu phê bình hiện nay

Tu từ học tiểu thuyết ra đời trong bối cảnh nền phê bình thế giới bùng nổ các khuynh hướng nghiên cứu, các cách tiếp cận tác phẩm nghệ thuật phong phú, đa dạng trên nhiều cấp độ: từ phê bình ấn tượng chủ nghĩa, tiểu sử học, văn hóa lịch sử, xã hội học, cho đến chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, phê bình nữ quyền, phê bình thực dân, hậu thực dân, hậu hiện đại, tự sự học. Nhìn một cách tổng thể, những phương pháp chú trọng đến kĩ thuật, thủ pháp kể chuyện, một mặt có thể xác lập mô hình truyện kể một cách sáng rõ, cụ thể, xác thực, thế giới nghệ thuật mà họ khám phá hiển lộ qua những bằng chứng cụ thể, thuyết phục; mặt khác, càng ngày nhà phê bình càng nhận thấy rằng những thủ pháp nghệ thuật có thể định lượng và minh chứng cụ thể ấy vẫn khó chạm đến được cái “sinh khí” thực sự trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực. Trong khi đó, một số phương pháp ngoại quan lại quá chú trọng đến các yếu tố ngoài văn bản, việc lí giải tác phẩm trượt theo tiêu chí và mục đích của người nghiên cứu nhiều hơn là giá trị thực chất của chính nó. Và như thế, truyện kể vẫn tiếp tục hé lộ những góc khuất cần được khám phá. Lấy nền tảng là sự thuyết phục của tu từ học cổ điển, tu từ học tiểu thuyết một mặt kế thừa phương pháp tiếp cận đòi hỏi những tính toán mang tính định lượng của chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, tự sự học, phong cách học; mặt khác nó đặt ra vấn đề về biểu hiện cảm xúc, tức chức năng, hay các giá trị biểu cảm mà những thủ pháp, kĩ thuật có thể đem đến cho người đọc..

Từ khi Tu từ học tiểu thuyết ra đời, phương pháp tiếp cận của nó đã ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến các hoạt động nghiên cứu phê bình. Hạt nhân tư tưởng của nó làm lung lay một loạt quan điểm của các nhà nghiên cứu về các vấn đề ngụy biện, chủ ý, diễn giải, và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trước mỗi tác phẩm nghệ thuật. Tu từ học len lỏi vào mọi cấp độ tinh vi nhất trong từng văn bản và ở mọi lĩnh vực. Điều quan trọng là độc giả hay người nghiên cứu phải xé bỏ được lớp ngôn từ bề mặt đó và lí giải được các hiện tượng đằng sau nó thông qua các mối quan hệ nội tại văn bản tác phẩm

Cao Việt Dũng: Các nhà nghiên cứu, phê bình trẻ vấp phải những thách thức khổng lồ

Những khu vực lớn và quan trọng của nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay dường như nằm ở các mối quan hệ: khu vực lý luận-lý thuyết (hay nói cách khác là mối quan hệ với bên ngoài) và khu vực văn học sử (hay nói cách khác là mối quan hệ ở bên trong, với chính mình). Có lẽ đã đến lúc nhìn lại sự tiếp nhận, xử lý và bình luận lý thuyết văn học nước ngoài, nhất là khi nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã bắt đầu cảm thấy một sự “bội thực” hay “lấn lướt” của lý thuyết, trong khi trên thực tế lý thuyết văn học nước ngoài (nhất là các trào lưu mới mẻ) được đưa vào Việt Nam vẫn ở tình trạng manh mún, nhỏ lẻ. Cùng lúc đó, bộ môn văn học sử cho thấy nó vẫn còn bỏ trống nhiều giai đoạn, những giai đoạn được bàn đến nhiều thì lại thiếu vắng những cái nhìn mới mẻ, rọi ánh sáng mới lạ, khác biệt (điều kiện tiên quyết để hiểu sâu sắc lịch sử). Giai đoạn văn học 1945-1954 cùng giai đoạn miền Nam 1954-1975 còn nghèo nàn nghiên cứu, và rất nhiều nhân vật, hiện tượng văn học mới chỉ bắt đầu được sự nghiên cứu kéo ra khỏi lãng quên. Đứng trước thực tế như vậy, các nhà nghiên cứu, phê bình trẻ vừa thấy nhiều cơ hội cho công việc, vừa vấp phải những thách thức khổng lồ.

T.K. thực hiện

Đính chính: Trên Văn nghệ trẻ số 1 – 2012, bài Phê bình văn  học hiện nay: chỗ đứng, chủ âm, phương pháp trích ghi ý kiến của một số tác giả trẻ, do sơ suất chúng tôi đã ghi là Đinh Hồng Phúc: Thiếu lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu biểu tượng”, nay xin đọc lại là “Đinh Hồng Hải….”. Thành thật xin lỗi tác giả và quý bạn đọc.

Nguồn: Văn nghệ Trẻ

Sách Tri thức

SÁCH MỚI

SÁCH MỚI

Developed by JoomVision.com
  • Nền dân trị Mỹ

    Nền dân trị Mỹ

    I. THÔNG SỐ SÁCH Tên sách: Nền dân trị Mỹ Tác giả: Alexis De Tocqueville Dịch giả: Phạm Toàn Số trang: 808 Giá bìa: 195.000Đ Hình thức: Bìa mềm, tay gấp Tủ sách: Tinh hoa Năm xuất bản: 2008 TÁI BẢN: 2012   II. GIỚI THIỆU SÁCH...

    đọc thêm

  • Các quy tắc của phương pháp xã hội học của Emile Durkheim

    Các quy tắc của phương pháp xã hội học của Emile Durkheim

    I. THÔNG SỐ SÁCH Tên sách: Các quy tắc của phương pháp xã hội học Tác giả: Emile Durkheim Dịch giả: Đinh Hồng Phúc Khổ sách: 12 x 20 cm Số trang: 324 trang Giá bìa: 65.000 Tủ sách: Tinh hoa Loại bìa: Bìa mềm, tay gập Năm xuất bản:...

    đọc thêm

  • Từ bờ bên kia

    Từ bờ bên kia

    I. THÔNG SỐ SÁCH Tên sách: Từ bờ bên kia Tác giả: Alexander Herzen Dịch giả: Nguyễn Văn Trọng Khổ sách: 12 x 20 cm Số trang: 372 trang Giá bìa: 75.000 Tủ sách: Tinh hoa Loại bìa: Bìa mềm, tay gập Năm xuất bản: 2012   II. GIỚI THIỆU...

    đọc thêm

  • Cơ cấu trí khôn

    Cơ cấu trí khôn

    Cuốn sách này của Howard Gardner giúp chúng ta có một cách nhìn tâm lí học vào trí khôn người. Cái trí khôn người đó không thể được nhận ra theo lối suy đoán, áng chừng đã đành. Nó lại càng không thể là cái kết quả "khoa học", hiện...

    đọc thêm

SÁCH SẮP XUẤT BẢN
Developed by JoomVision.com
  • Nhận diện quyền lực

    Nhận diện quyền lực

    I. THÔNG SỐ SÁCH Tên sách: Nhận diện quyền lực Tác giả: Noam Chomsky Dịch giả: Hoàng Văn Vân Khổ sách: 16x24 Số trang: 600 Giá bìa: Tủ sách: Tri thức mới Loại bìa: Mềm, tay gập Phát hành: 2012   II. GIỚI THIỆU SÁCH   Bạn...

    đọc thêm

  • Hồi ký Nguyễn Thị Bình

    Hồi ký Nguyễn Thị Bình

    I. THÔNG SỐ SÁCH Tên sách: Hồi ký Nguyễn Thị Bình Tác giả: Nguyễn Thị Bình Khổ sách: 13 x 20,5 cm Số trang: Giá bìa: Tủ sách: Khác Loại bìa: Bìa mềm, tay gập Năm xuất bản: 2012   II. GIỚI THIỆU SÁCH 1. Tác phẩm Trên tay...

    đọc thêm

  • Câu chuyện vô hình và Đảo

    Câu chuyện vô hình và Đảo

    Câu chuyện vô hình và Đảo là tập tiểu luận triết học đầu tiên của Hamvas Béla viết vào năm 1943, cũng là tập tiểu luận duy nhất được xuất bản khi ông còn sống. Tác phẩm gồm mười bốn tiểu luận, chia làm hai phần: phần thứ nhất...

    đọc thêm

  • đọc thêm

SÁCH ĐƯỢC YÊU THÍCH
ĐỌC SÁCH ONLINE
Developed by JoomVision.com
  • Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao

    Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao

    LỜI NÓI ĐẦU Nói về bầu trời, những ngôi sao và vũ trụ là một việc hết sức khó khăn. Vì theo định nghĩa vũ trụ là tập hợp của tất cả những gì tồn tại, một thực thể chứa đựng tất cả, nên trong vô số các “mục từ” biết...

    đọc thêm

  • Tư duy như hệ thống

    Tư duy như hệ thống

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN David Joseph Bohm sinh ngày 20.12.1917 tại Wilkes-Barre, Pennsylvania, trong một gia đình Do Thái. Tuổi thơ của ông trôi qua không êm đềm. Nhận được ít sự chia sẻ từ cha mẹ, ông đã tìm cảm hứng trong thế giới của riêng mình,...

    đọc thêm

  • Thảm họa toàn cầu

    Thảm họa toàn cầu

    LỜI MỞ ĐẦU – TẬN THẾ Ở NƠI ĐÂU?   “Biết ra sao ngày sau Điều gì tới sẽ tới Chẳng ai biết trước được tương lai Biết ra sao ngày sau.”  (Jay Livingston và Ray Evans) Có một vấn đề lớn khi dự báo về ngày tận thế của...

    đọc thêm

  • Người Ba-na ở Kon Tum - Lời giới thiệu

    Người Ba-na ở Kon Tum - Lời giới thiệu

    Lời giới thiệu Andrew Hardy[1] Viện Viễn Đông bác cổ Pháp Tại Hà Nội Vị bác sỹ không chỉ chăm sóc sức khỏe mọi người mà còn hơn thế. Ông không ở bệnh viện mà thường xuyên đi lại, thăm nom các bệnh nhân ở những ngôi làng hẻo...

    đọc thêm

Đối tác

Bạn cần có Flash Player để xem nội dung. Tải về: http://www.adobe.com/products/flashplayer Đọc thêm...